Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa - Vinlawyer
Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa - Vinlawyer
Dịch vụ soạn thảo đơn khởi kiện, hợp đồng online

Chuyển quyền sở hữu hàng hóa tức là bạn đã chuyển quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt đối với hàng hóa đó. Vì vậy, nó có ảnh hưởng trực tiếp tới việc xử lý rủi ro, mất mát hay quyền định đoạt hàng hóa của bên bán và bên mua. Từ đó, tìm hiểu về vấn đề này khi thực hiện mua bán tài sản là điều cần thiết. Vậy thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa là khi nào? Trong bài viết dưới đây, Luật sư tư vấn chúng tôi sẽ phân tích giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về vấn đề này.

1. Chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa là gì?

Quyền sở hữu theo quy định tại Điều 158 Bộ luật dân sự 2015: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.”

Hàng hóa theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai.

Theo đó quyền sở hữu hàng hóa bao gồm các quyền: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa là việc bên bán chuyển giao các quyền nêu trên cho bên mua tại một thời điểm xác định.

Ý nghĩa của việc chuyển giao:

  • Xác định thời điểm bên nhận chuyển giao là chủ sở hữu, được thực hiện quyền của chủ sở hữu như mua bán, cho thuê, thế chấp, thậm chí tiêu hủy;
  • Xác định thời điểm chuyển giao các rủi ro.

2. Thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa

Thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa được quy định tại Điều 62 Luật Thương mại 2005 như sau:

Điều 62. Thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hoá

Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao.”

Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, quyền sở hữu hàng hóa có thể được chuyển giao ở những thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào tính chất của việc chuyển giao và phương thức thanh toán.

Thông thường, đối với hàng hóa mua bán mà việc chuyển giao được dịch chuyển về mặt cơ học thì quyền sở hữu đối với hàng hóa được chuyển giao cho người mua khi người bán hoàn thành nghĩa vụ giao hàng. Đối với những hàng hóa không dịch chuyển cơ học khi giao nhận (ví dụ như những hàng hóa là tài sản gắn liền với đất đai), việc giao nhận hàng hóa được thực hiện thông qua việc chuyển giao chứng từ về hàng hóa, khi đó quyền sở hữu đối với hàng hóa được chuyển giao cho người mua khi hoàn tất việc chuyển giao các chứng từ về hàng hóa. Đối với hàng hóa mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì hàng hóa được chuyển giao cho người mua khi hoàn tất thủ tục đăng ký quyền sở hữu đối với hàng hóa đó.

Trường hợp hàng hóa không dịch chuyển khi giao nhận và cũng không có chứng từ về hàng hóa, quyền sở hữu hàng hóa được coi là đã chuyển giao tại thời điểm và thời gian hợp đồng có hiệu lực.

Trường hợp mua bán hàng hóa theo phương thức mua sau khi sử dụng thử, thì trong thời hạn dùng thử, hàng hóa vẫn thuộc sở hữu của bên bán. Tuy nhiên, trong thời gian dùng thử, quyền sở hữu hàng hóa của bên bán bị hạn chế, bên bán không được bán, tặng cho, cho thuê, trao đổi, thế chấp, cầm cố hàng hóa khi bên mua chưa trả lời.

Trường hợp hàng hóa được mua bán theo phương thức trả chậm, trả dần thì bên bán được bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với hàng hóa cho đến khi bên mua trả đủ tiền, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Luật pháp quốc tế đề cập vấn đề này như thế nào?

Vấn đề chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong các công ước thương mại quốc tế và trong luật pháp của các nước trên thế giới là một vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm. Bản thân Công ước Viên 1980 cũng không đề cập tới vấn đề này. Incoterms – một tập quán mua bán quốc tế được áp dụng rộng rải trong thương mại quốc tế – cũng không hề đã động gì tới vấn đề chuyển quyền sở hữu hàng hóa trong các điều khoản liên quan.

Theo giải thích của ICC thì luật pháp của nhiều nước quy định một bên gọi là đã nắm được quyền sở hữu hàng hóa khi bên đó, hoặc là trực tiếp hay gián tiếp, đã có được trong tay mình các loại chứng từ thể hiện quyền định đoạt hàng hóa như vận đơn đường biển- một chứng từ thể hiện quyền định đoạt hoặc chuyển giao hàng hóa. Vì vậy trong các hợp đồng mua bán quốc tế các bên cần quy định rõ khi nào thì người mua sẽ trỡ thành người sở hữu hàng hóa. Trong một số trường hợp người mua có thể chưa trở thành người sở hữu hàng hóa khi mà người bán- theo quy định của điều khoản quyền bảo lưu sở hữu hàng hóa- vẫn đang còn nắm giữ quyền này tới chừng nào anh ta thu được tiền bán hàng từ người mua. Chính vì vậy, Điều 92 của Bộ luật hàng hải Việt nam đã quy định “ người gửi hàng có quyền định đoạt hàng hóa cho đến khi hàng được trả cho ngừoi nhận hàng hợp pháp nếu chưa chuyển giao ( to be vested) quyền này cho ngừoi khác; có quyền yêu cầu dỡ hàng trước khi tàu biển bắt đầu hành trình, có quyền thay đổi ngừoi nhận hàng hoặc cảng trả hàng sau khi chuyến đi đã bắt đầu….” Thực tế tinh thần và lời văn của quy định này trong Bộ luật hàng hải Việt nam bắt nguồn từ học thuyết “ Stoppage in transitu” của luật Anh.

Trên đây là toàn bộ nội dung phân tích của Luật sư tư vấn Công ty Luật TNHH Vinlawyer về “Thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa” Công ty Luật TNHH Vinlawyer rất hân hạnh được đồng hành cùng quý khách hàng trong việc giải quyết mọi vấn đề pháp lí. Hãy liên hệ với chúng tôi để được sử dụng dịch vụ tư vấn luật một cách tốt nhất.

Dịch vụ soạn thảo đơn khởi kiện, hợp đồng online

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây