Người bị bệnh tâm thần vẫn được hưởng di sản thừa kế - Vinlawyer
Người bị bệnh tâm thần vẫn được hưởng di sản thừa kế - Vinlawyer
Dịch vụ soạn thảo đơn khởi kiện, hợp đồng online

Di sản thừa kế là tài sản của người mất để lại cho người còn sống. Trong trường hợp người được hưởng thừa kế bị bệnh tâm thần thì có được hưởng thừa kế không? Bài viết dưới đây Luật sư tư vấn chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc về vấn đề trên theo quy định pháp luật hiện hành.

1. Năng lực pháp luật của người bị bệnh tâm thần

Theo quy định Điều 22 Bộ luật dân sự 2015, người bị bệnh tâm thần chỉ bị xem là mất năng lực hành vi dân sự trong trường hợp sau:

  • Không thể nhận thức, làm chủ được hành vi
  • Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

2. Người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự

Theo quy định của Điều 53 Bộ luật dân sự 2015 thì người giám hộ của người mất năng lực hành vi dân sự gồm:

– Vợ hoặc chồng

– Con nếu cha, mẹ hoặc một trong hai người bị mất năng lực hành vi dân sự

– Cha, mẹ trường hợp con đã thành niên chưa có vợ hoặc chồng

Giám hộ người bị bệnh tâm thần - Vinlawyer
Giám hộ người bị bệnh tâm thần – Vinlawyer

Trường hợp không có những người giám hộ kể trên thì Ủy ban nhân dẫn cấp xã chỉ định người giám hộ.

3. Quy định pháp luật về người thừa kế

Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật dân sự  “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.” Như vậy, theo quy định của pháp luật, người thừa kế là chủ thể còn sống vào thời điểm mở thừa kế.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, có hai hình thức phân chia di sản thừa kế, là phân chia di sản thừa kế theo di chúc và phân chia di sản thừa kế theo pháp luật. Tại đó, đối với việc phân chia di sản thừa kế theo di chúc, tài sản thừa kế sẽ được định đoạt theo mong muốn, ý chí của người làm di chúc (cần chú ý đến những đối tượng được hưởng di sản thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung của di chúc). Với việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật, các chủ thể chung hàng thừa kế sẽ được hưởng phần tài sản ngang nhau (thứ tự nhận di sản thừa kế sẽ ưu tiên theo thứ tự của từng hàng thừa kế).

4. Người bị tâm thần có được hưởng thừa kế không?

Những trường hợp không được hưởng di sản thừa kế: 

– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe. Hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.

– Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.

– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng.

– Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc. Giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Người bị bệnh tâm thần vẫn được hưởng di sản thừa kế - Vinlawyer
Người bị bệnh tâm thần vẫn được hưởng di sản thừa kế – Vinlawyer

Nếu không thuộc một trong các trường hợp cụ thể nêu trên, các cá nhân vẫn đảm bảo quyền lợi trong việc nhận thừa kế. Người bị bệnh tâm thần không thuộc đối tượng trong các trường hợp nêu trên, do đó, pháp luật không hạn chế quyền hưởng thừa kế của người bị bệnh tâm thần họ vẫn sẽ được hưởng thừa kế theo quy định của pháp luật.

Đặc biệt, với những hành vi tước quyền được hưởng thừa kế của người bị bệnh tâm thần, chiếm đoạt tài sản thừa kế của người được hưởng thừa kế, sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật. Đây chính là tính công bằng mà Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hướng đến, và duy trì thực hiện.

Lưu ý: Những người thuộc các trường hợp trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.

5. Người quản lý tài sản thừa kế của người bị bệnh tâm thần

  • Theo quy định tại Điều 59 Bộ luật Dân sự năm 2015, người giám hộ sẽ là người quản lý tài sản của người mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, đối với tài sản thừa kế của người bị bệnh tâm thần sẽ do người giám hộ có trách nhiệm quản lý tài sản của người bị bệnh tâm thần như tài sản của chính người giám hộ; được thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị bệnh tâm thần vì lợi ích của người bị bệnh tâm thần.
  • Các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản mà có giá trị lớn của người bị bệnh tâm thần như: cho thuê, cho mượn, bán, trao đổi thế chấp, đặt cọc, cho vay, cầm cố và giao dịch dân sự khác thì phải được sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
  • Người giám hộ không được đem tài sản của người bị bệnh tâm thần tặng cho người khác. Các giao dịch dân sự giữa người giám hộ với người bị bệnh tâm thần có liên quan đến tài sản của người bị bệnh tâm thần đều vô hiệu, trừ trường hợp giao dịch được thực hiện vì lợi ích của người bị bệnh tâm thần và có sự đồng ý của người giám sát việc giám hộ.
  • Người giám hộ của người người bị bệnh tâm thần được quản lý tài sản của người bị bệnh tâm thần theo quyết định của Tòa án trong phạm vi được quy định tại khoản 1 Điều 59 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Người giám sát của người giám hộ của người bị bệnh tâm thần được quy định theo Bộ luật Dân sự năm 2015 như sau: Người giám sát việc giám hộ là người thân thích của người bị bệnh tâm thần (là vợ, chồng, cha, mẹ, con ông, bà, anh ruột, chị ruột, em ruột, bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột) hoặc người thân thích chọn cá nhân, pháp nhân khác làm người giám sát việc giám hộ.
  • Việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ phải được sự đồng ý của người bị bệnh tâm thần. Trường hợp giám sát việc giám hộ liên quan đến quản lý tài sản của người bị bệnh tâm thần thì người giám sát phải đăng ký tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người bị bệnh tâm thần.

– Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người giám hộ cử cá nhân hoặc pháp nhân giám sát việc giám hộ nếu không có người thân thích của người bị bệnh tâm thần hoặc những người thân thích không cử, chọn được người giám sát việc giám hộ. Trường hợp có tranh chấp về việc cử, chọn người giám sát việc giám hộ thì Tòa án quyết định.

– Điều kiện cá nhân làm người giám sát giám hộ là người có đủ năng lực hành vi dân sự, điều kiện pháp nhân làm người giám sát giám hộ là đủ có năng lực pháp luật dân sự và có điều kiện cần thiết để thực hiện việc giám sát.

– Quyền và nghĩa vụ của người giám sát việc giám hộ: Theo dõi, kiểm tra người giám hộ trong việc thực hiện giám hộ; Xem xét, có ý kiến kịp thời bằng văn bản về việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự có liên quan đến người bị bệnh tâm thần; Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giám hộ xem xét thay đổi hoặc chấm dứt việc giám hộ, giám sát việc giám hộ.

  • Sau khi lựa chọn được người giám hộ của người bị bệnh tâm thần thì việc lựa chọn phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực theo quy định pháp luật.

Trên đây là toàn bộ nội dung phân tích của Luật sư Bình Dương – Công ty Luật TNHH Vinlawyer về “Cha mẹ bán đất có cần chữ ký của con không?”. Công ty Luật TNHH Vinlawyer rất hân hạnh được đồng hành cùng quý khách hàng trong việc giải quyết mọi vấn đề pháp lí. Hãy liên hệ với chúng tôi để được sử dụng dịch vụ tư vấn một cách tốt nhất.

Dịch vụ soạn thảo đơn khởi kiện, hợp đồng online

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây